DẤU ẤN LỊCH SỬ TRONG SỰ LỚN MẠNH
CỦA HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1. Yêu cầu đột phá từ các Nghị quyết Trung ương
Để đất nước vững bước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, Trung ương đã ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW thực hiện đột phá trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo. Gửi gắm vào đó sứ mạng lịch sử mới đối với các cơ sở đào tạo đại học, trong đó có Học viện nông nghiệp Việt Nam.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra mục tiêu đầy tham vọng, yêu cầu hệ thống giáo dục đại học phải vươn lên tầm cỡ toàn cầu với điểm nhấn mang tính cách mạng là khẩn trương triển khai sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học; nghiên cứu sáp nhập các viện nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học; xoá bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả. Chủ trương sáp nhập này trực tiếp giải quyết sự lãng phí về nguồn lực đầu tư công và sự đứt gãy về chuỗi giá trị nhân lực. Việc sáp nhập viện nghiên cứu vào trường đại học tạo ra mô hình "trường - viện tích hợp" theo chuẩn mực quốc tế. Theo đó các chuyên gia, nhà nghiên cứu tại các cơ sở sẽ chính thức trở thành "giảng viên - nhà nghiên cứu"; ngược lại, sinh viên có cơ hội thực hành thực tế quy mô lớn để cọ xát, rèn kỹ năng nghề theo chuẩn đầu ra.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu để Việt Nam trở thành quốc gia phát triển. Theo đó yêu cầu các trường đại học, các viện nghiên cứu cần trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo. Đồng thời, các tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học được thành lập, tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu ngay trong lòng trường đại học; được sử dụng tài sản hữu hình và trí tuệ để liên kết, hợp tác khoa học và công nghệ với doanh nghiệp. Nghị quyết này đã tạo ra hành lang để các viện nghiên cứu sau khi sáp nhập vào trường đại học không bị "hành chính hóa" mà được trao cơ chế linh hoạt để xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo (Innovation Hubs), thiết lập các không gian thử nghiệm (Sandbox), và đưa trực tiếp công nghệ ra thị trường.
Chủ trương của Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu tái cấu trúc trong hệ thống sơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu cũng như tái cấu trúc tổ chức bên trong của các cơ sở này góp phần thực hiện đột phá trong trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
2. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – địa chỉ đỏ trong đào tạo và nghiên cứu
Trải qua gần bảy thập kỷ xây dựng và trưởng thành, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã đã khẳng định vị thế vững chắc của một cơ sở giáo dục đại học công lập trọng điểm quốc gia, giữ vai trò đầu tàu trong hệ sinh thái giáo dục đại học vùng Thủ đô và cả nước về các lĩnh vực nông nghiệp sinh thái, công nghệ sinh học, thú y, tài nguyên môi trường và kinh tế tuần hoàn. Hiện Học viện đang vận hành một hệ sinh thái đào tạo khổng lồ, linh hoạt và đa ngành.
| Chỉ tiêu và quy mô đào tạo |
Dấu ấn tự hào |
Ý nghĩa thời đại |
| Quy mô người học hiện tại |
Khoảng 35.000 người học (trong đó gần 33.000 sinh viên đại học, trên 700 thạc sĩ, trên 130 tiến sĩ) |
Nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, sẵn sàng tham gia hỗ trợ các đề tài nghiên cứu thực nghiệm |
| Số lượng ngành đào tạo |
44 ngành đại học, 16 ngành thạc sĩ, 16 ngành tiến sĩ |
Cấu trúc đa ngành, từ nông học, thú y đến kỹ thuật, kinh tế, quản trị kinh doanh, công nghệ số |
| Chương trình quốc tế |
06 chương trình dạy bằng tiếng Anh |
Đáp ứng chuẩn mực hội nhập, thu hút sinh viên quốc tế và các học giả thỉnh giảng |
| Cựu sinh viên |
Trên 120.000 cử nhân/kỹ sư/bác sĩ, trên 15.000 Thạc sĩ, khoảng 800 Tiến sĩ |
Mạng lưới cựu sinh viên rộng khắp, tạo lợi thế kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ khởi nghiệp |
Với định hướng trở thành đại học tự chủ, đa ngành, đa phân hiệu theo mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực, là trung tâm xuất sắc của quốc gia về đổi mới sáng tạo, Học viện từng bước chuyển đổi từ "đại học giảng dạy" sang "đại học nghiên cứu" với những thành tựu khoa học công nghệ vượt bậc và hạ tầng cơ sở vật chất tầm cỡ quốc tế. Năng lực nghiên cứu của Học viện đã tiệm cận các chuẩn mực toàn cầu, tạo ra những sản phẩm có tính ứng dụng cao, phục vụ trực tiếp cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế. Điển hình là việc triển khai thành công Dự án SAHEP-VNUA do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ với tổng vốn 58,7 triệu USD, hoàn thành và khánh thành năm 2024. Dự án này cung cấp cho VNUA các tổ hợp giảng đường và phòng thí nghiệm hiện đại bậc nhất. Học viện đồng thời triển khai dự án KOICA (Hàn Quốc) để xây dựng trung tâm đào tạo nông nghiệp thông minh. Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc và Đổi mới sáng tạo với 20 phòng thí nghiệm trọng điểm, trong đó có 6 phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO 17025:2017 có khả năng xét nghiệm trên 700 chỉ tiêu... Bên cạnh đó, Học viện còn lập 46 nhóm nghiên cứu (bao gồm nhóm mạnh, nhóm xuất sắc và nhóm tinh hoa). Đội ngũ này những năm gần đây đã tạo ra nhiều thành tựu khoa học to lớn.

Với sức mạnh nội sinh to lớn, cơ sở hạ tầng hiện đại và tầm nhìn quản trị chiến lược vượt trội của một đại học đang chuyển mình mạnh mẽ theo mô hình "Đại học tự chủ định hướng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo" đa ngành, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành trọn niềm tin của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường để nhận được sự tin tưởng giao phó trọng trách tiếp nhận các tổ chức đào tạo và nghiên cứu để thực thi sứ mạng đột phá trong giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
3. Dấu ấn lịch sử trong sự lớn mạnh vượt bậc của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Để thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra những quyết định mang tính bước ngoặt, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chính thức tiếp nhận nguyên trạng 03 đơn vị chiến lược: Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu Rau quả, và Trung tâm Giám định máy và Thiết bị. Đây không chỉ là một phép cộng cơ học về mặt hành chính mà là nghệ thuật sắp xếp lại mảnh ghép của một chuỗi giá trị tạo giải pháp hữu hiệu trong thực hiện đột phá về giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo.
Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập từ năm 1979 với tiền thân là Trường Quản lý Hợp tác xã Nông nghiệp Trung ương, đơn vị này có sứ mệnh lịch sử là bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ nông nghiệp từ cấp trung ương đến địa phương. Qua gần nửa thế kỷ, Trường đã bồi dưỡng hàng chục nghìn lượt học viên về kỹ năng quản lý nhà nước, kinh tế hợp tác, chuyển đổi số và xây dựng nông thôn mới. Theo Quyết định số 3528/QĐ-BNNMT, cơ sở đào tạo này chính thức sáp nhập, trở thành một bộ phận của Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Điều đó đã mang lại giá trị tương hỗ khổng lồ, theo đó Học viện có thêm một "cánh tay nối dài" trực tiếp chạm tới các cơ quan quản lý và địa phương trên toàn quốc. Thế mạnh về tiến bộ kỹ thuật, giống cây, công nghệ mới của Học viện sẽ nhanh chóng đi vào thực tiễn; ngược lại thực tiễn quản lý nông nghiệp sẽ cung cấp những gợi mở "đề bài" nghiên cứu thực chiến của Học viện.
Được thành lập từ năm 1990 trên cơ sở sáp nhập các trung tâm nghiên cứu rau quả khu vực Gia Lâm, Viện Nghiên cứu Rau quả (FAVRI) thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) có bề dày lịch sử, đặc biệt trong công tác chọn tạo giống, kỹ thuật thâm canh, và công nghệ bảo quản rau, hoa, quả. Theo Quyết định số 1166/QĐ-BNNMT gần 180 cán bộ viên chức và 117 hecta đất nghiên cứu thực nghiệm với hệ thống nhà màng, nhà lưới và phòng kiểm nghiệm chuyên sâu ngay tại Gia Lâm, liền kề với khuôn viên của Học viện đã về chung một nhà, tích hợp thành một tổ chức đào tạo, nghiên cứu có sức mạnh to lớn về công nghệ sinh học cơ bản (công nghệ gen, tế bào), các công nghệ lõi và nguồn nhân lực trẻ để tạo nên một hệ sinh thái nghiên cứu khép kín hoàn hảo.
Cũng theo Quyết định số 1166/QĐ-BNNMT, Trung tâm Giám định máy và Thiết bị trực thuộc Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch (VIAEP) với 15 viên chức và khu vực bãi thử máy nông nghiệp cùng nhà xưởng rộng gần 4 ha tại Gia Lâm cũng được chuyển nguyên trạng về Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Sự cấu trúc lại này góp phần thiết lập môi trường "Sandbox công nghệ" (Không gian thử nghiệm có kiểm soát) với chu trình R&D khép kín là một sáng kiến quản trị công nghệ mang tính đột phá, góp phần gia tăng sức hấp dẫn trong các hợp tác công - tư của Học viện.
Quá trình lớn mạnh của Học viện Nông nghiệp Việt Nam thông qua chiến lược tái cấu trúc với sáp nhập Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Giám định máy và Thiết bị là một hình mẫu xuất sắc trong việc thực thi Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW của Đảng. Đây không phải phép cộng cơ học về hành chính. Việc sáp nhập tạo ra một chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến thực tiễn. Sau sáp nhập, quy mô Học viện tăng lên hơn 1.500 viên chức, người lao động và sở hữu gần 340 héc-ta đất đào tạo, thực nghiệm. Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã sẵn sàng dẫn dắt nền nông nghiệp hội nhập sâu rộng trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Năm 2026, Học viện Nông nghiệp Việt Nam triển khai tuyển sinh với quy mô 8.284 chỉ tiêu đại học hệ chính quy.
Thí sinh đăng ký xét tuyển cần đặc biệt lưu ý về mặt thời gian hoàn thành việc đăng ký nguyện vọng trên hệ thống chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo trước 17 giờ ngày 14/7/2026.
Học viện có quỹ học bổng rất lớn, Tân sinh viên khóa 71 có cơ hội nhận một trong gần 1.800 suất học bổng với tổng giá trị lên tới gần 30 tỷ đồng. Đặc biệt, có 03 suất học bổng du học tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Tây Nam, Trung Quốc dành riêng cho sinh viên xuất sắc. |